Giới thiệu và cách tra từ điển “Tứ giác hiệu mã”

Vui Học tiếng Hán – Để các bạn có thể hiểu về “Tứ giác hiệu mã” mình xin giới thiệu Tứ giác hiệu mã nguyên thủy là cách tra chữ Hán (chủ yếu là phồn thể) do học giả Vương Vân Ngũ 王雲五 phát minh và được phổ biến ở Ðài Loan hơn 50 năm qua. Cách tra nổi tiếng này dùng 10 chữ số từ 0 đến 9 để gán cho nét bút ở bốn góc của mỗi chữ Hán. Với Tứ giác hiệu mã, ta có thể tra được chữ Hán bất chấp ngữ âm và ngữ nghĩa.

1. NGUYÊN TẮC CỦA TỨ GIÁC HIỆU MÃ

Chữ Hán có tự dạng vuông, nghĩa là mỗi chữ có 4 góc, và hình nét ở mỗi góc rất đa dạng. Vương Vân Ngũ đã quy ước dùng 10 chữ số (từ 0 đến 9) để gán cho 10 nhóm nét bút có thể xuất hiện ở từng góc. 10 hiệu mã quy ước là:

CHÚ Ý:

Số 1, 2, 3 là nét đơn. Số 0, 4, 5, 6, 7, 8, 9 là nét phức (do hai ba nét hợp thành). Chữ 亠 là 0 (chứ không phải 3); 寸là 4 (chứ không phải 2); ㄏlà 7 (chứ không phải 2); là 8 (chứ không phải 3 và 2); 小là 9 (chứ không phải 3 và 3).

Ðể giúp độc giả dễ nhớ 10 mã số này, quyển từ điển Từ Vị 辭彙của Ðài Loan (Văn Hóa Ðồ Thư Công Ty) in kèm Khẩu quyết của Tiến sĩ Hồ Thích 胡適 (1891-1962):

Bút hoạch hiệu mã ca
筆 劃 號 碼 歌

Nhất hoành, Nhị thùy, Tam điểm nại,
一 橫 二 垂 三 點 捺
Ðiểm hạ đái hoành biến Linh đầu,
點 下 帶 橫 變 0 頭
Xoa Tứ, tháp Ngũ, phương khối Lục,
叉 四 插 五 方 塊 六
Thất giác, Bát bát, Cửu thị tiểu.
七 角 八 八 九 是 小

Đại ý:
– Một (1) là nét ngang; Hai (2) là nét sổ dọc; Ba (3) là nét chấm và nét mác. (Nại= ấn thành chấm, hay ấn đè thành nét mác).
– Nét ngang dưới nét chấm biến thành chữ đầu, là O.
– Nét giao nhau là Bốn (4); Nét hất từ dưới xiên lên phải là Năm (5); Nét hình khối vuông là Sáu (6). (Tháp= ghim, cắm vào, xóc)
– Bảy (7) là góc; Tám (8) là chữ bát; Chín (9) là chữ tiểu.

Lê Anh Minh cải biên lại cho người Việt dễ nhớ:

Bài ca về mã số của nét bút

Một ngang, Hai sổ, Ba điểm mác,
Ðiểm trên ngang dưới tức Không đầu,
Bốn giao, Năm xóc, Sáu vuông vức,
Bảy góc, Tám bát, Chín tiểu tâm.

2. CÁC QUY TẮC

ÐIỀU 1: Thứ tự mã ở bốn góc được xếp như sau:

Thí dụ: chữ đoan có mã là 0212. Các chữ khác:

ÐIỀU 2: Phần trên hay phần dưới chữ là nét đơn hay nét phức, dù ở vị trí góc nào, số mã cũng tính cho góc trái còn góc phải là 0. Thí dụ:

ÐIỀU 3: Cùng một nét đã tính cho góc nào rồi, thì góc kia sẽ tính là 0. Thí dụ:

ÐIỀU 4: Nếu các chữ 行 囗 門 鬥 rỗng thì tính đủ 4 góc của chúng; nếu trong ruột có chứa bộ phận nào nữa thì hai góc đáy phải tính theo bộ phận này. Thí dụ:

Tuy nhiên, điều trên sẽ không hiệu lực nếu phía bên ngoài các chữ 行 囗 門 鬥 có thêm số nét khác. Thí dụ:

ÐIỀU 5: Các chữ trên có 宀戶, tức là dưới nét chấm có nét ngang có liên tiếp với nét khác, thì tính là 3, chứ không tính là 0. Do đó hai góc trên là 3 và 0 (vì bên trái tính rồi thì bên phải là 0). Tuy nhiên các chữ có ㄬthì hai góc trên tính 00. Thí dụ:

ÐIỀU 6: Các chữ 尸 皿 門 几v.v., ngay góc vuông còn kéo dài ra nữa thì tính là 7 (góc) không tính là 6 (vuông). Thí dụ:

ÐIỀU 7: Hai đầu của nét góc (7) tùy theo hình nét mà tính riêng chứ không tính là 7. Thí dụ:

ÐIỀU 8: Nét 人(8) nhưng trên có nét cắt ngang (tức là 大) thì tính là 43, không tính là 8. Thí dụ:

ÐIỀU 9: Nét độc lập (hoặc song song), không kể trồi lên cao hay hạ xuống thấp, chỉ tính nét bìa trái hay bìa phải của nó. Thí dụ:

ÐIỀU 10: Nét bìa trái hay phải có nét khác trồi lên hay hạ xuống thì phải tính nét trồi lên hay hạ xuống đó làm mã. Thí dụ:

ÐIỀU 11: Nếu ở góc là hai nét phức kết hợp nhau thì tính nét trồi lên hay hạ xuống làm mã. Thí dụ:

ÐIỀU 12: Nếu chữ có nét phiệt và nại (như 八 人 入 ) xòe rộng ra một bên hay hai bên thì phải tính mã ở phần bên dưới đó. Thí dụ:

ÐIỀU 13: Nét 勹ㄙ ở bên trái thì tính theo nét phẩy (2), còn ở bên phải thì tính theo nét góc (7), nét chấm (3). Thí dụ:

Reply